Thương nhĩ – Vị thuốc hàng đầu trị ngạt mũi, giải cảm

29/07/2021

Trong y học cổ truyền, thương nhĩ được xếp vào nhóm thuốc “Tân ôn giải biểu” có tác dụng giải cảm và điều trị bệnh do tà khí tác nhân bên ngoài xâm phạm vào cơ thể.

Thương nhĩ còn được gọi là: Thương nhĩ tật lê, thương nhĩ tử, thương khỏa tử… Tên gọi khoa học: Xanthium strumarium L, tên khác: Ké đầu ngựa. Có thể dùng quả, lá và thân cây thương nhĩ làm dược liệu trị bệnh. Lá và thân cây thu hái quanh năm. Dùng tươi hoặc sấy khô. Quả (thương nhĩ tử) được thu hoạch lúc chín, thường là vào tháng 8 – 9 hàng năm, cắt hoặc đốt cho sạch gai, phơi khô làm thuốc.

Theo y học cổ tuyền thương nhĩ vị ngọt nhạt, hơi đắng đắng, đi vào kinh phế (phổi). Sách Thánh tễ tổng lục ghi: Thương nhĩ 3 lạng, sấy khô, tán bột, uống mỗi ngày 2 tiền khi bụng đói để chữa chứng ôn dịch (bệnh truyền nhiễm cấp tính) và bệnh thời khí (bệnh phát sinh theo thời tiết khí hậu).

Nghiên cứu của y học hiện đại cho thấy, thương nhĩ có có tác dụng kháng viêm, tiêu diệt vi khuẩn xâm nhập vào cơ thể (ức chế quá trình hình thành viêm và loại bỏ các vi khuẩn gây viêm), giảm đau, giảm ho, ức chế miễn dịch, chống ôxy hoá, hạ huyết áp và đường huyết, hưng phấn hô hấp, hệ thần kinh trung ương, giúp giảm căng thẳng, mệt mỏi, nâng cao thể trạng và chống ung thư…

Những bài thuốc chữa bệnh có thương nhĩ

  • Trị viêm mũi xoang: Thương nhĩ tử 8g, tân di hoa 15g, bạch chỉ 30g, bạc hà 3g. Các vị thuốc tán bột mịn, ngày uống 2 lần, mỗi lần 6g. Có thể dùng nước sắc lá chè và hành để chiêu thuốc.
  • Trị viêm đường tiết niệu: Thương nhĩ tử 15g, nhẫn đông hoa 15g, bòng bong 20g, xa tiền 20g. Sắc uống ngày một thang. Uống liền 5-7 ngày.
  • Trị chứng mẩn ngứa, nổi mề đay: Thương nhĩ tử 15g, sinh địa 30g, bạc hà 12g. Sắc uống
  • Trị đau răng: Thương nhĩ tử sắc lấy nước đặc xúc miệng. Áp dụng liên tục nhiều lần trong ngày.